Nguyen Gia Kieng (Nguyễn Gia Kiểng)

* 1942

  • "Khi nước Việt Nam đạt tới đồng thuận là phải từ chối bạo lực, hòa giải, hòa hợp với nhau, và cũng có niềm tin Việt Nam phải có dân chủ. Tôi nghĩ không ai phản bác ba lập trường căn bản đó mà anh em chúng tôi đã theo đuổi 40 năm qua. Đó là một tiến bộ rất lớn. Khi một đồng thuận dân tộc đó đã lớn như vậy thì chỉ có những người dại dột lắm mới chống lại nó. Đảng Cộng sản Việt Nam nếu họ cứ ngoan cố chống lại thì họ chỉ chuốc lấy thất bại. Trái lại, nếu họ tham gia vô, họ có thể là tác nhân được lịch sử nhắc tới như là những người có công. Đằng nào chăng nữa, thay đổi của Đảng Cộng sản chỉ có thể làm cho cuộc cách mạng dân chủ này nhanh chóng hơn hoặc chậm lại thôi, chứ không thể thay đổi tình thế đâu. Càng ngày thì niềm tin của tôi càng lạc quan. Càng ngày càng có nhiều người Cộng sản hơn tin rằng tương lai đó bắt buộc phải đến. Càng ngày họ càng đóng góp tích cực hơn cho sự thay đổi đó. Tương lai đó không phải là của tôi, vì năm nay tôi 83 tuổi rồi. Thời gian để tôi có thể giữ vai trò chính thức, quan trọng nào đó, nó đã qua rồi. Điều quan trọng trong cuộc đời là mình đã đóng góp cho cái gì đúng. Còn thành công hay thất bại thì không quan trọng, tất cả đều thoáng qua thôi. Cuộc đời nó ngắn ngủi, dù có sống 100 năm hay 20 năm thì cũng là khoảng thời gian vô cùng ngắn trong dòng vô tận của thời gian. [...] Làm sao trong cuộc sống ngắn ngủi đó chúng ta sống xứng đáng, điều đó quan trọng. Tôi mong rằng người Việt Nam hiểu như vậy để chúng ta gác lại hận thù, tức tối, chia rẽ, chúng ta sẽ cùng bắt tay nhau để thế hệ mai sau sống tốt đẹp hơn. Và thế hệ sau nữa sống tốt đẹp hơn nữa. Sau hơn 80 năm sinh sống thì tôi nghĩ tôi đã là đứa con đồng quê Việt Nam, rất chậm tiến, sau được đi du học Pháp, may mắn học với những thành phần tinh nhuệ nhất của nước Pháp, thì tôi nhận ra dân tộc Việt Nam có khả năng trí tuệ rất bén nhạy. Chúng ta có thể có tương lai rất sáng lạn, chúng ta có vị trí địa lý rất thuận lợi, bờ biển dài và đẹp mở ra một đại dương hiền hòa, hơn nữa mở ra biển Đông là nơi quá phân nửa hàng hóa đi qua. Chúng ta có tất cả các điều kiện để thành công. Chỉ có điều chúng ta có nhìn đúng hay không. Nhưng điều quan trọng nhất là phải nhìn lại anh em, nhận lại bạn bè. Chúng ta phải hiểu ta trải qua nội chiến kéo dài 30 năm. Những đất nước khác mà trải qua nội chiến dù chỉ là 5 năm, và sau đó cố gắng hoà giải cũng khó. Huống chi ta trải qua nội chiến 30 năm, sau đó phe thắng cuộc lại còn áp dụng các biện pháp phân biệt đối xử, bỏ tù tập thể, hạ nhục cả nước, thì sứ mệnh hòa giải dân tộc để đi đến hòa hợp dân tộc càng khó. Đòi hỏi mọi người phải cố gắng. Đấy là những lời sau cùng của tôi. Tất cả những gì đã có thể làm trong đời thì tôi đã làm. Giờ sắp sửa ra đi thì tôi chỉ mong mọi người hiểu rằng, sự cao cả của cuộc đời không phải là sự thành công, mà là cái sự kiện mình đã luôn cố gắng đứng về sự thật và lẽ phải, mình đã luôn có tình cảm đúng với đất nước, đồng bào mình, đối với nhân loại. Đối với một người ở trên cái giờ giấc sắp từ giã cõi đời, thì đó là những lời nhắn nhủ. Cuộc đời tôi dầu sao chỉ đi từ thất bại này tới thất bại khác, nhưng dẫu sao tôi cũng ra đi với một cái tâm trạng bình yên."

  • "Hồi đó có nhiều người nói nếu mà nói chính phủ Việt Nam Cộng hoà lưu vong thì không ai có tư cách hơn mình [cười], nhưng mà nói đùa chơi thôi, chúng tôi đến với nhau, gắn bó vì 1 cái lý tưởng cao cả hơn. Chúng ta tranh đấu không phải để lập lại chế độ Việt Nam Cộng hoà, mà là để đem lại dân chủ, tự do, nhân quyền cho người Việt Nam. Vì tương lai của đất nước Việt Nam. Vì thế mà chúng tôi không dùng lá cờ của Việt Nam Cộng hoà. Chúng tôi tôn trọng lá cờ đó. Một trong những lý do người ta ghét chúng tôi. Chúng tôi tôn trọng lá cờ đó vì dưới nó đã có nhiều người lương thiện đã chết. Cũng như chúng tôi tôn trọng lá cờ đỏ sao vàng, bởi vì có nhiều người yêu nước lương thiện đã chết dưới nó. Nhưng những điều kiện đó nó thuộc về lịch sử. Lá cờ vàng ba sọc đỏ đã vĩnh viễn bị hạ xuống, nó thuộc về quá khứ. Lá cờ đỏ sao vàng sau này cũng sẽ được hạ xuống, cũng sẽ thuộc về lịch sử, sẽ được nằm trong viện bảo tàng với tất cả sự quý trọng. Nhưng chúng ta cần 1 biểu tượng khác. Đó là lập trường của chúng tôi. [...] Cuộc tranh đấu của chúng ta là cuộc tranh đấu cho dân chủ. Không phải là để giương lá cờ vàng ba sọc đỏ lên, mà là để hạ lá cờ đỏ sao vàng xuống và đưa nó vào viện bảo tàng. [...] Cả hai lá cờ đó đều phải được trân trọng, tôi không muốn nhìn thấy người nào giẫm đạp hay đốt lá cờ nào hết. Vì dưới những là cờ đó có những người lương thiện, có đồng bào mình đã chết. Mình phải kính trọng ký ức của họ. Vấn đề là chúng ta cần một biểu tượng mới, tượng trưng cho một nước Việt Nam đoàn kết, hoà giải, hoà hợp. Phấn đấu chia sẻ một tương lai chung."

  • "Ngày tôi rời bàn chuyên viên (cho chính quyền Cộng sản), khi đi xe máy trên đường thì có một người gọi tôi: “Anh Kiểng, anh Kiểng.” Là một cô chuyên viên rất hồng, rất ghét người của miền nam, cho là họ kiêu căng, cô ấy lúc nào cũng giáo điều. Cô ấy gọi tôi, tôi ngạc nhiên quay trở lại, cô ấy nói tôi là: “Chúc anh may mắn nhé.” Thành ra tôi nghĩ vẻ mặt nghiêm nghị giáo điều trước đây chỉ là đóng kịch thôi, cô ấy không muốn mất địa vị, tai hoạ thôi. Chứ trong thâm tâm cô cũng nhìn tôi cũng chỉ là một người đồng hương, một người bạn thôi. [...] Tôi thấy việc làm chuyên viên cộng sản tôi thấy vô ích. Tôi đã gặp những người lãnh đạo đảng cộng sản, tôi nói rằng có những việc làm được nhưng các anh sẽ không làm. Tôi cũng đưa cho họ nhiều thí dụ. Tôi thấy tôi vô ích. Nên khi được chính quyền Pháp can thiệp thì tôi hân hoan chấp nhận."

  • "Chúng tôi lại trở thành chuyên viên của cộng sản, gặp nhau. Chúng tôi có quyết tâm tìm đường vượt biên. Anh ấy vượt biên trong điều kiện khó khăn. Phải nói tụi này thân nhau ở mức độ khó tưởng tượng. Chưa kể tới những lần anh ấy vượt biên không thành công, bị bắt, vượt trại, tôi còn giúp chỉ dẫn anh ấy chỗ để trốn. Không thể nào gần nhau hơn được nữa. Biết nhau, cùng đậu tú tài cùng năm, học cùng trường, hai thằng anh em phân vân không biết thằng nào giỏi hơn, sau lại thân nhau. Sau này khi anh ấy ra đi tới nơi, trải qua nhiều gian truân, phải đến 10 lần mới thoát nạn. Anh ấy gửi thư cho tôi. Hai năm sau tôi được chính quyền Pháp can thiệp cho đi. Tôi ngạc nhiên tại sao anh ấy không còn... tụi này ngày xưa nói chuyện với nhau là tụi mình ra đi để tìm đường trở về, chứ không phải ra đi để từ bỏ đất nước này, đó là lời nguyền của chúng tôi.... tôi thấy anh ấy im bặt, không còn xuất hiện ở đâu cả. Sau này qua một sự tình cờ tôi có địa chỉ, số điện thoại. Tôi gọi qua và điều làm tôi kinh ngạc nhất là anh ấy không biết tôi là ai. Tôi gọi điện thoại phải giới thiệu hai ba lần, anh ấy vẫn như thế nào, hình như,... những ký ức của anh ấy như bị xoá bỏ hết rồi. Sau tôi nhắc lại ba bốn lần thì anh mới nhớ ra. [...] Tôi nghĩ là trong lúc anh ấy tìm lại được bến bờ tự do, nhớ lại quãng đời đó, thì anh ấy thấy nó vất vả quá, ký ức đó anh ấy quyết định xoá bỏ hết. Tôi nghĩ rằng, một cách không có chủ ý, rất nhiều người của chế độ Việt Nam Cộng hoà, sau những gian truân, thảm kịch mà họ đã phải sống, họ đã đi đến quyết định như vậy. Họ mệt quá rồi. [...] Cho nên tôi rất quý mến những người trong tình trạng khó khăn đó vẫn cất lên tiếng nói phản biện. Tôi nghĩ rằng ngày hôm nay nhân cơ hội này, anh em có lý do để tự hào. Anh em là những ý chí còn lại của dân tộc này."

  • "Họ bắt nhận tội phản quốc nhưng tôi từ chối. ""Có thể tôi có tội với đảng cộng sản, vì tôi không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản nhưng tôi không phản quốc. Nếu không yêu nước thì tại sao đang sống bình yên ở Pháp tôi lại về Việt Nam trải qua bao nhiêu khó khăn. Tôi không phản bội tổ quốc. Nếu chống cộng là tội thì tôi nhận tội."" Nhưng họ cứ bắt tôi ký giấy nhận tội, nếu chống cộng thì tức là phản quốc. Nên tôi bị biệt giam, còng chân trong vòng 18 tháng. [...] Lúc đó tôi cũng suy nghĩ là mình về đâu phải đầu hàng, thua thì chấp nhận, nhưng nếu tôi ký tên tội phản quốc, thì dù có thoát được sau này thì cũng k còn tư cách gì hoạt động chính trị. Hồi đó tôi nghĩ khả năng đc trả tự do là rất ít, nhưng nếu may mắn mình tìm lại dc tự do thì tôi cam kết dành phần đời còn lại đấu tranh dân chủ tự do. Tôi đã giữ cam kết đó đến ngày hôm nay. [...] Nhiều người chưa hiểu mục đích của chương trình học tập cải tạo, họ cứ nghĩ là lý do an ninh nhưng không đúng đâu. Sau này khi ra tù và trở thành chuyên viên của chế độ, thảo luận với những người chuyên viên rất cao cấp trong chế độ, tôi mới hiểu lý do thật sự của chương trình đó. Đó là họ muốn đánh gục trí tuệ miền nam. Tất cả những ý chí tranh đấu nào. Thời gian học tập cải tạo, có những chuyện rất đáng buồn. Đau đớn nhất là đói, thiếu ăn. [...] Thêm nữa là thương con nhớ vợ. Nên ý chí bị gãy đổ sau những năm tháng đau khổ, bị làm nhục trong tù. Nên những viên chức cũ khi ra nước ngoài họ không còn ý chí đấu tranh nữa."

  • "Sau hiệp định paris 1973, chúng tôi rủ nhau về Việt Nam, trong lúc tình hình miền nam kể như là tuyệt vọng, hiệp định Paris coi như người Mỹ bỏ rơi Việt Nam Cộng hoà, vậy mà nghĩ lại cũng có những lúc mình thấy vui, chúng tôi lý tưởng tới mức rủ nhau hơn 100 đứa kéo nhau về để coi như đóng góp bảo vệ chế độ trong tình trạng tuyệt vọng. [...] Có quá nhiều vấn đề, vấn đề nào cũng khó trong một cái chế độ đang ở giai đoạn chót, đang sống những ngày cuối cùng. Trung bình một ngày làm việc 11 12 giờ, rất mệt mỏi. Sau 30/4/1975 chúng tôi, những người kẹt lại, sống trong sự đe dọa lớn. Chúng ta đừng quên rằng 2 tuần trước 30/4/1975 thì phe cộng sản đã thắng ở campuchia, việc đầu tiên khi họ vô là họ tàn sát tri thức, những người của chế độ cũ bị kẹt lại, kể cả những người chỉ có cái tội là biết đọc biết viết. Nên chúng tôi sống trong sự hoang mang không biết số phận của mình có phải số phận chung như những người trí thức bên campuchia hay không. Nhưng sau khi họ vô thì tôi lại thấy khỏe. Trước đó thì mình không có ngủ, phải làm việc mệt mỏi, nên lúc đó, những ngày đó tự nhiên mình có cảm giác khỏe. Số phận đến thế nào thì mình nói tùy nó. Sau đó thì cũng như mọi người tôi phải đi tù 3 năm rưỡi, rồi họ đem ra họ cho làm chuyên viên chế độ cộng sản. [...] Dù mặt trận quân sự có sụp đổ, mình cố gắng giữ mặt trận kinh tế không sụp đổ như người ta chờ đợi. Kết quả là gì? Lúc đó tôi là trưởng ban vật giá thuế khoán, tức là tôi là người lo về vật giá trong bộ kinh tế. Anh em tôi làm việc cho tới 30/4 vẫn bình tĩnh ở đó. Kết quả là mặc dầu Việt Nam Cộng hòa sụp đổ nhưng đồng tiền Việt Nam Cộng hòa vẫn giữ y nguyên giá trị của nó. Chế độ Cộng sản, tôi nghĩ họ cũng ngạc nhiên, họ phải giữ đồng tiền đó 6 tháng tiếp rồi họ mới ra đồng tiền mới. Sau này tôi nghĩ có lẽ người Việt Nam mình chỉ quan tâm tới sự thất bại, mình ít để ý tới những cái thành tích, những cố gắng đã đem lại những kết quả, dù nó bị cái sự thất bại của Việt Nam Cộng hoà gạt đi rồi. Nhưng có một người, sau này trở thành bạn thân tôi, ông ấy là cố vấn của tòa đại sứ Úc, là nhà nghiên cứu rất sâu sắc, ông ấy rất ngạc nhiên về điều đó, chưa bao giờ thấy một chế độ sắp sụp đổ mà cái nền kinh tế của nó không hề. Ông ấy đi kiếm hoài, kiếm qua những quan chức, kiếm người phụ trách vật giá Việt Nam, thế là kiếm được tôi. Chúng tôi trở thành bạn. Ông ấy nói rất tò mò về cái chuyện rất ngược đời chưa bao giờ có trên thế giới. Sau này khi gặp lại những người bạn cũ ở bộ kinh tế, dù ngậm ngùi về kết quả, nhưng vẫn uống cà phê với nhau được trong sự thoải mái của tâm hồn, mặc dầu mình ở phe thất bại nhưng đã làm tất cả cho đất nước mình muốn phục vụ."

  • "Cùng với 1 số người bạn, chúng tôi kiên trì, nghĩ rằng tương lai của của Việt Nam phải là dân chủ. Chúng tôi tin không có gì quý hơn trong đời người chính là cái tự do, nếu mà có tiền của mà không đc nghĩ những điều mình nghĩ, đọc điều mình muốn đọc, nói cái mình muốn nói thì cuộc sống vô nghĩa. Chúng tôi kiên trì tranh đấu cho lập trg tự do dân chủ. Trg thời gian đó tôi mất nhiều người bạn quý lắm, những người bạn họ cũng có tâm hồn lắm, nhưng mà họ theo lý tưởng cộng sản, họ cho rằng lý tưởng cộng sản sẽ thăng tiến con người, xóa bỏ chênh lệch giàu nghèo, nâng cấp giúp đỡ đa số quần chúng nghèo khổ. Họ cũng có cái lý của họ, mà nhiều người lại buộc tội tôi là phản bội giai cấp, họ biết tôi cũng nghèo, sống khổ ở Việt Nam mà bây giờ lại đi theo bọn tư bản. Trong giai đoạn đó tôi có nhiều lần bị hành hung từ phía cộng sản, có lẽ là sinh viên có kỷ lục ra vào nhà thương nhiều nhất giai đoạn đó. [...] May mắn tôi gặp đc một số anh em có thiện chí, có tâm hồn với đất nước, chúng tôi tổ chức với nhau những đêm học tập cùng nhau, lập trường từ ban đầu là không có thành kiến. Mỗi đứa chịu khó thu thập tài liệu về đảng cộng, về các chế độ dân chủ, về các nước. Sau đó mỗi độ cuối tuần có thể nói gần như 48 giờ, là chỉ trao đổi với nhau xem đất nước phải đi theo con đường nào, cách tổ chức xã hội nào phù hợp nhất. [...] Nên chúng tôi có cái thành tâm của tuổi trẻ , có sự trong sáng, không có thành kiến, nghiên cứu tương đối có thể nói khả năng hấp thụ trên mức trung bình. Dần dần đa số chúng tôi đi đến lập trường là miền nam, mặc dầu còn nhiều khuyết điểm, nhưng có thể trở thành nước dân chủ được. Nên chúng tôi ủng hộ chế độ Việt Nam Cộng hoà ở miền nam. Ủng hộ chế độ không có nghĩa là ủng hộ ông Diệm, chúng tôi vẫn đi biểu tình chống lại ông Diệm và các tướng lĩnh. Chúng tôi phân biệt chế độ, thể chế cộng hòa, nhưng không ủng hộ chính quyền, nên tình trạng chúng tôi rất bấp bênh [cười]. Bên cộng sản thì họ coi là kẻ thù, còn bên quốc gia họ cũng không coi tôi là những người thân thiện. Về sau họ cũng nhìn ra là tụi này dễ thương, tuổi trẻ ngây thơ, nói chung tụi tôi về sau cũng thành công khá ngoạn mục về mặt học vấn nên họ cũng có cảm tình, những đứa trẻ thông minh và lương thiện. Nhưng mà thật ra tôi không phải là nh ng ủng hộ tướng lãnh miền nam. Tôi đã nói gia đình tôi sống rất khó khăn dưới chế độ Ngô Đình Diệm, ông bố tôi phải chạy vào Pleiku sống với các bộ lạc dân tộc thiểu số, chúng tôi không có lý do tán thành với những ng lãnh đạo Việt Nam Cộng hoà, nhưng chúng tôi ủng hộ dân chủ."

  • "Tôi bắt đầu có 1 kỷ niệm mà tới giờ vẫn nhìn dc rất rõ. Tôi 3 tuổi, chưa hẳn tới 3 tuổi, nạn đói 1945. Mẹ tôi mỗi tối, gd tương đối khá giả, không giàu có nhưng là gd nông dân tương đối khá trong vùng, bà ấy cũng đi gom góp với những ng có phương tiện để mối buổi tối là nấu cháo. Tôi vẫn nhìn thấy dc dưới ánh lửa bập bùng, hàng trăm hàng ngàn ng tới, mỗi được tô cháo, chén cơm. Tôi thấy ngày nào cũng có số ng chết đói cũng lớn, ngày nào cũng có mấy ng anh chị của tôi đào hố để chôn ng chết đói. Những kỷ niệm rất mạnh mà tôi không bh quên. Nhưng cũng nạn đói đó đã đem lại cho tôi 1 số anh chị, vì khi mẹ tôi ra đường mà gặp những ng bố mẹ chết đói rồi thì bà ấy dắt về. Trong khoảng 1945 hầu như ngày nào tôi cũng có 1 anh nuôi hay 1 chị nuôi dẫn về. [...] Tôi cũng k biết tại sao mà mẹ tôi ra ý kiến mỗi buổi tối nấu cháo cứu đói, việc đó ảnh hưởng tâm lý của tôi và anh em tôi. Tôi vẫn nghĩ điều quan trọng nhất k phải sự thành công hay giàu có, mà là tình cảm đối với đồng loại. Tôi k biết nguyên nhân sao mẹ tôi nảy ra ý kiến đó, mà nó ảnh hưởng tâm lý gia đình, anh em và cá nhân tôi."

  • "Năm 1982 tôi được chính quyền Pháp can thiệp, chính quyền Cộng sản Việt Nam đang cần hợp tác với Pháp, mở cửa về phía các nước dân chủ, họ cho tôi đi. Sang Pháp hai tháng tôi được một số anh em, phần lớn là cựu viên chức Việt Nam Cộng hoà và một số chuyên viên tốt nghiệp tại Pháp chưa về Việt Nam. Hơn mười người chúng tôi rủ nhau thành lập ra Tập hợp Dân chủ Đa nguyên. Đồng thuận căn bản: tranh đấu, đóng góp để thành lập một chế độ dân chủ, đa nguyên cho Viêt Nam, đấu tranh trong tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc. Đồng ý với nhau rằng tất cả những đau khổ của Việt Nam đến từ chỗ người Việt Nam không coi nhau là anh em, hận thù quá nhiều. Nên chúng tôi coi nhu cầu, bồn phận quan trọng nhất là phải thực hiện hoà giải dân tộc để tiến tới hoà hợp dân tộc. Và dể bắt tay nhau xây dựng tương lai chung. Chúng tôi cũng tin rằng chúng ta đã đau khổ như chúng ta ngày hôm nay là vì chúng ta không dứt khoát từ khước bạo lực. Bạo lực là điều ta phải gạt bỏ dứt khoát, vĩnh viễn. Từ đó tới này Tập hợp Dân chủ Đa nguyên cũng được gần 42 năm rồi."

  • Celé nahrávky
  • 1

    Paris, 26.07.2004

    (audio)
    délka: 02:35:03
    nahrávka pořízena v rámci projektu Memory of Vietnamese Civil Society
Celé nahrávky jsou k dispozici pouze pro přihlášené uživatele.

Tất cả cuộc đời tranh đấu của tôi là để cho một đất nước Việt Nam dân chủ, thịnh vượng.

Nguyen Gia Kieng (Nguyễn Gia Kiểng) 2025
Nguyen Gia Kieng (Nguyễn Gia Kiểng) 2025
zdroj: Natáčení

Nguyễn Gia Kiểng sinh năm 1942 tại tỉnh Thái Bình, miền Bắc Việt Nam, giữa chiến tranh. Sau Hiệp định Genève chia cắt đất nước, ông và gia đình di cư vào Nam, tiếp tục những năm tháng khó khăn dưới chính quyền Ngô Đình Diệm. 19 tuổi, ông đậu tú tài và nhận học bổng du học Pháp. Năm 1973, ông trở lại miền nam Việt Nam, làm chuyên viên kinh tế cho chế độ Việt Nam Cộng hoà. Năm 1975, ông bị bắt đi tù cải tạo, sau được trả tự do và được trọng dụng làm chuyên viên kinh tế cho chế độ mới, chế độ Cộng sản. Đến năm 1982, ông tái định cư tại Pháp. Từ đó đến nay, ông vẫn hoạt động chính trị không ngơi nghỉ cho một tương lai Việt Nam đa nguyên, dân chủ.