Následující text není historickou studií. Jedná se o převyprávění pamětníkových životních osudů na základě jeho vzpomínek zaznamenaných v rozhovoru. Vyprávění zpracovali externí spolupracovníci Paměti národa. V některých případech jsou při zpracování medailonu využity materiály zpřístupněné Archivem bezpečnostních složek (ABS), Státními okresními archivy (SOA), Národním archivem (NA), či jinými institucemi. Užíváme je pouze jako doplněk pamětníkova svědectví. Citované strany svazků jsou uloženy v sekci Dodatečné materiály.
Pokud máte k textu připomínky nebo jej chcete doplnit, kontaktujte prosím šéfredaktora Paměti národa. (michal.smid@ustrcr.cz)
Ước mơ về một Việt Nam tử tế hơn
1990: Sinh ra tại Đà Nẵng
2012: Tốt nghiệp loại giỏi Học viện hành chính quốc gia Việt Nam
2011: Bắt đầu tham gia biểu tình phản đối việc tàu Bình Minh của Việt Nam bị Trung Quốc cắt cáp
2011: Viết đơn tự thú gửi Viện kiểm sát nhân dân tối cao để phản đối điều 88, Bộ luật hình sự
2012: Tham gia khóa học về xã hội dân sự tại Pakisama, Philippines
2014: Tham gia chương trình vận động cho nhân quyền Việt Nam trong khuôn khổ UPR
2014: Tham gia giám sát bầu cử ở Đài Loan
2015: Bị tạm giữ ở sân bay Đà Nẵng và thu hộ chiếu sau thời gian học tập và làm việc ở nước ngoài
2015 – 2017: Đồng hành với ngư dân miền Trung và đưa tin về thảm họa Formosa
2018: Tham gia biểu tình, viết bài về dự luật Đặc khu
2017 – 2020: Đồng hành cùng người dân Đồng Tâm và đưa tin về tranh chấp đất đai cũng như thảm kịch Đồng Tâm
2018: Vượt biên sang Thái Lan để tránh sự truy lùng của an ninh
2019: Quay trở lại Việt Nam nhờ sự can thiệp của Đại sứ quán Đức
2020: Đi trốn để lánh né sự truy lùng của an ninh vì bài viết về cuộc bao vây, ở Đồng Tâm vào tháng 1/ 2020
2022: Vượt biên qua Thái Lan lần thứ hai
2023: Được Canada tái định cư và hiện đang sinh sống cùng gia đình tại Canada
Nguyễn Anh Tuấn sinh ra và lớn lên ở Đà Nẵng, năm 1990, có cha làm nghề cơ khí và mẹ kinh doanh quán ăn. Dầu cuộc sống lúc đó có nhiều khó khăn, nhưng vẫn rất thơ mộng trong trí nhớ anh, vì gia đình lúc đó sống ở một phường đánh cá ngay cạnh bờ sông và núi Sơn Trà. Từ nhỏ anh đã được dẫn dắt để tự do biểu đạt ý kiến và tranh luận để hiểu vấn đề, cũng như bảo vệ những điều mình cho là đúng. Gia đình anh thường xem thời sự điểm tin vào mỗi tối khi cả gia đình quây quần bên mâm cơm, nhưng không phải để tiếp thu thông tin tuyên truyền của chính quyền, mà vì không có chương trình nào khác. Dẫu không được quyền lựa chọn chương trình vô tuyến, nhưng cha mẹ anh đã tận dụng thời gian này để giải thích và cùng tranh luận với anh về các vấn đề được nêu trong các bản tin và không hề ép buộc anh phải nghe theo ý kiến của họ. Cha mẹ anh không bao giờ dùng đòn roi để dạy anh, mà thay vào đó là sự tôn trọng, lắng nghe ý kiến của anh. Tư tưởng và cách suy nghĩ của anh cũng từ đây mà được định hình.
Nhờ nền tảng giáo dục dựa trên tranh luận và lý lẽ thuyết phục nên anh không ngại ngần thể hiện ý kiến bằng một cách rất riêng ở trường, từ tiểu học lên đến cấp hai rồi trung học phổ thông. Khi lên tới trung học, việc biểu đạt ý kiến của anh được thể hiện một cách rõ ràng hơn. Khi thì anh viết kiến nghị, lúc lại tìm cách nói chuyện và trình bày với thầy hiệu trưởng hay các thầy cô khác ở trường. Có lần anh bị một thầy giáo khiển trách rất nặng nề vì để râu và mặc quần bạc màu. Anh hỏi thầy, tại sao việc để râu và mặc quần bạc màu lại không đúng và có vi phạm quy tắc nhà trường hay không, nhưng thầy không có đủ lý để “buộc tội” anh. Từ đó về sau anh không bị khiển trách vì những lỗi nhỏ như vậy nữa.
Một lần khác, anh viết thư gửi hiệu trưởng để trình bày ý kiến và phản đối các cuộc thi tìm hiểu quy định, bộ luật và các nghị định mới được ban hành. Để đạt được con số 100 phần trăm học sinh đã tìm hiểu về các nghị định và bộ luật mới ban hành, nhà trường ra đề bài kèm câu trả lời cho học sinh. Anh cho rằng đây là hành động mang tính hình thức bề ngoài và giả dối, vì nó chỉ giống như một cuộc thi tập viết mà học sinh không hề quan tâm, cũng không hiểu gì về các bộ luật hay nghị định mới thông qua. Hiệu trưởng sau đó mời anh lên văn phòng nói chuyện và ngạc nhiên thay, thầy đồng tình với những gì anh viết trong thư và khen anh đã dám dũng cảm nói lên điều mà anh nghĩ. Sự tôn trọng và tâm thế cởi mở lắng nghe ý kiến học sinh của một số thầy cô trong nhà trường là một trong những điều tích cực tiếp tục ảnh hưởng tới cách suy nghĩ cũng như làm vững thêm tinh thần tranh luận của anh.
Học xong trung học, anh đăng ký vào Học viện Hành chính Quốc gia, vì tin rằng anh có thể góp phần mang đến thay đổi xã hội từ bên trong, bằng cách trở thành một phần của bộ máy chính quyền giống như các thế hệ đi trước trong gia đình anh đã làm, vì anh tin rằng, các kỳ thi đại học là bằng chứng của công bằng xã hội, bởi việc thi và học đại học dành cho tất cả mọi học sinh, sinh viên, công dân mọi tầng lớp, không phân biệt giàu nghèo, vị trí xã hội. Khi vào nhập học, anh chứng kiến một sự thật hoàn toàn khác. Có rất nhiều sinh viên của trường được nhận không phải nhờ kỳ thi và điểm số, mà nhờ hối lộ để chạy điểm. Ngoài ra, trong thời gian học ở trường, anh được tháp tùng một thầy giáo đến các lớp học dành cho các quan chức, công chức của chính quyền, nhờ đó anh biết được cách làm việc trong các cơ quan nhà nước và hiểu cách suy nghĩ của họ. Có lần anh cùng thầy có dịp đi ăn cùng và chứng kiến một nhóm thẩm phán và luật sư ở Tây Nguyên thống nhất trước các bản cáo trạng ngay tại bàn ăn ở quán nhậu. Hay sự xa hoa của gia đình bạn học có cha là thành viên Trung ương đảng đã khiến anh đặt dấu chấm hỏi cho mô hình đang được vận hành ở Việt Nam.
Trong suốt thời gian anh theo học các chương trình tiểu học cũng như trung học, anh không hề được tiếp cận hay nghe đến các khái niệm phổ quát như nhân quyền, xã hội dân sự. Những kỷ niệm đầu tiên khi anh mới 6-7 tuổi đã khơi dậy sự đồng cảm và sự uất ức trước những bất công trong xã hội. Hình ảnh cô hàng xóm ngồi xe lăn, sống trong một mái nhà tranh rất nghèo nàn dùng quyết tâm bảo vệ mảnh đất của gia đình tới chút sức lực cuối cùng là một hình ảnh không thể phai nhòa trong tâm trí anh. Điều duy nhất mà anh cảm nhận và nhớ tới tận bây giờ là sự bất nhẫn của chính quyền đối với một công dân bé nhỏ, không có thế lực, tài sản gì. Sau này khi lớn lên, có thêm kinh nghiệm sống và tiếp xúc với nhiều tình huống, hoàn cảnh liên quan trực tiếp đến nhân quyền hay xã hội dân sự, anh cảm nhận được những kinh nghiệm mà anh đã nếm trải dần dệt thành các khái niệm phổ quát. Ngoài ra, anh có may mắn được tiếp cận với rất nhiều nguồn tư liệu, sách vở từ thời Việt Nam Cộng hoà đã mở ra cho anh một chân trời kiến thức mới, giúp anh hiểu và định hình được các khái niệm phổ quát về dân chủ, nhân quyền.
Những kinh nghiệm sống và chân trời kiến thức này giúp anh hiểu rằng, thể chế hiện tại không phải là lựa chọn duy nhất, cũng không phải là giải pháp tốt nhất hay duy nhất cho đất nước, con người Việt Nam, mà có nhiều thể chế khác không những giúp cho xã hội ngày một phát triển hơn mà còn kiềm chế quyền lực, không làm cho con người bị tha hoá, hư hỏng. Dần dần anh hiểu ra rằng, Việt Nam cần có một sự thay đổi và sự thay đổi này không thể đến trong ngày một ngày hai mà phải có một quá trình. Và để thay đổi này được bền vững và lâu dài, xã hội và người dân cần phải có quyền tự quyết, tự lập. Đây là những cấu kết trong xã hội, độc lập với chính quyền, các công ty, tập đoàn để thúc đẩy, đề xuất sự thay đổi với chính quyền. Đây cũng là lúc anh tìm đến với khái niệm xã hội dân sự, vì nó giúp thay đổi xã hội từ gốc rễ, mà không cần đến bạo lực.
Từ năm 2011 anh bắt đầu tham gia các cuộc biểu tình tự phát ở các đường phố ở Hà Nội. Chính quyền lẽ tự nhiên là ngăn cản và không muốn để các cuộc biểu tình này xảy ra. Cuộc biểu tình đầu tiên mà anh tham gia là cuộc biểu tình về việc tàu Bình Minh của Việt Nam bị Trung Quốc cắt cáp, và đây là cuộc biểu tình bắt đầu cao trào biểu tình kéo dài 10 năm ở Việt Nam. Từ sau cuộc biểu tình này, đường phố Hà Nội thường đầy ắp người biểu tình vào mỗi sáng chủ nhật. Khi người dân mới bắt đầu tham gia các cuộc biểu tình từ 2011, họ thường đi theo các lời kêu gọi biểu tình từ mạng xã hội và không hề có tổ chức hay sắp xếp trước. Nhiều khi đoàn người cứ tập trung lại với nhau rồi kéo nhau qua khắp các con phố Hà Nội mà không hề biết lộ trình đường đi. Sau này, khi các cuộc biểu tình có tổ chức hơn, người dân thống nhất đường đi rồi khẩu hiệu để hô vang trong lúc biểu tình và càng ngày càng có tổ chức hơn.
Mỗi sáng chủ nhật không chỉ là ngày biểu tình mà còn là dịp để những người đồng tư tưởng, các bạn trẻ cùng chí hướng gặp gỡ và chia sẻ với nhau. Có nhiều nhóm xã hội dân sự đã được phôi thai thành lập từ những dịp hội ngộ này, như nhóm No-U là nhóm phản đối đường lưỡi bò của Trung Quốc ở Biển Đông. Bản thân anh bị nhà trường khiển trách và dọa sẽ bị điểm kém và có thể không được tốt nghiệp, nhưng anh vẫn tiếp tục tham gia biểu tình.
Cuộc biểu tình chống lại Dự luật đặc khu năm 2018 là cuộc biểu tình đầu tiên mang tính chống lại một chính sách của nhà nước thay vì biểu tình chống lại các thế lực thứ 3 từ bên ngoài như các cuộc biểu tình chống Trung Quốc trước đó. Cuộc biểu tình được rất đông người tham gia và hưởng ứng, nên chính quyền đã phải gác lại dự luật đặc khu trước làn sóng phản đối mãnh liệt từ người dân. Ngoài việc tham gia biểu tình chống lại dự luật đặc khu 2018, anh cũng tham gia vào làn sóng tranh luận của xã hội dân sự hồi đó như một đối trọng với các bài viết tuyên truyền từ phía chính quyền. Chính quyền thì tuyên truyền rằng các đặc khu này có tiềm năng khơi dậy tiềm lực kinh tế địa phương cũng như của Việt Nam, nhưng xã hội dân sự thì cho rằng các đặc khu kinh tế này có nguy cơ rất lớn bị rơi vào tay nước ngoài và biến tướng thành các sòng bạc, casino, gây ra nhiều tệ nạn và vấn đề xã hội cho địa phương. Tuy nhiên, bộ công an tỏ ra lo ngại trước làn sóng biểu tình gay gắt kéo dài gần 10 năm và bắt đầu đàn áp các cuộc biểu tình. Cuộc biểu tình chống dự luật đặc khu và dự luật an ninh mạng ở Hà Nội bị đàn áp rất nặng nề vì quy mô nhỏ hơn các cuộc biểu tình ở Sài Gòn. Trong các cuộc biểu tình trước, số người bị bắt thường là 15-20 người, nhưng năm 2018 có khoảng 148 người bị bắt và trong năm 2019 là 50-60 người bị bắt. Bản án dành cho những người bất đồng chính kiến cũng dài hơn, từ 3-4 trở thành 7-10 năm. Cuộc thanh trừng, loại bỏ những người dám lên tiếng, biểu tình, …vẫn kéo dài đến tận hôm nay. Chính quyền thấy việc dùng bạo lực để dập tắt các tiếng nói bất đồng mang lại hiệu quả, họ được đà bao vây và đàn áp để giải quyết mâu thuẫn đất đai và cưỡng chế đất ở Đồng Tâm.
Là sinh viên duy nhất trong lớp được chọn để tham gia lớp cảm tình đảng chuẩn bị cho việc gia nhập đảng cộng sản, nhưng cuối cùng anh lại không đi theo con đường này vì thấy nó không hợp với anh. Thay vì vào đảng và đi theo con đường hành chính nhà nước, khoảng tháng 4, năm 2011, anh viết thư tự thú, nhân việc luật sư Cù Huy Hà Vũ (CHHV) bị bắt theo điều 88 Bộ luật hình sự vì tội sản xuất và tàng trữ tài liệu chống phá nhà nước xã hội chủ nghĩa. Mặc dầu không đồng ý với một số ý kiến của ông CHHV, anh vẫn tin rằng, quyền được phát biểu chính kiến thông qua việc viết và đăng bài là một điều rất quan trọng. Anh quyết định viết thư tự thú, vì anh muốn phản đối sự bất công của điều 88. Về nguyên tắc, anh cũng đã đọc các bài viết của ông CHHV và có tải các bài viết này về máy tính cá nhân, nên đúng ra cũng thuộc diện tàng trữ tài liệu chống phá nhà nước. Vì vậy, nếu bắt và khởi tố luật sư CHHV thì cũng nên bắt anh. Vì hành động này, anh bị nhà trường và công an mời lên làm việc và yêu cầu rút lại đơn tự thú. Nhà trường hứa với chính quyền, đây chỉ là việc làm bồng bột thiếu suy nghĩ của anh, nhưng anh phản bác lại và khẳng định, đây là những điều mà anh tin tưởng là đúng đắn và đã cân nhắc chín chắn với tư cách một công dân trưởng thành, không phải với tư cách là sinh viên. Bài viết của anh được các báo đài như BBC, RFA, blog Ba Sàm đăng tải.
Cũng vì bài viết này, chủ nhà trọ của anh bị sách nhiễu, nhiều người phản đối, nhưng cũng có những tiếng nói động viên, ủng hộ thái độ và việc làm của anh. Với riêng anh, phản ứng yêu ghét của người ngoài không quan trọng, mà động lực từ trong mới là điều cốt yếu, đó là dám nói lên ý kiến của mình và bảo vệ những điều mình cho là đúng. Đây cũng là hành động mang tính đối lập chính trị công khai đầu tiên của anh đã giúp anh dứt khoát hoàn toàn với con đường sự nghiệp theo truyền thống gia đình, nhưng việc đưa ra quyết định không hề dễ dàng với anh.
Sau khi tốt nghiệp đại học Hành chính quốc gia, anh tham gia một khóa đào tạo về xã hội dân sự ở Philippines vào cuối năm 2012, đúng với hình dung và sở thích của anh. Anh được gửi đến học ở Pakisama là tổ chức về quyền đất đai và hỗ trợ nông dân, người dân Philippines từ khắp đất nước. Anh có dịp được đến thăm các trung tâm huấn luyện do nông dân tự tổ chức để giúp đỡ lẫn nhau. Họ chia sẻ kinh nghiệm nông nghiệp hữu cơ và kinh nghiệm chống lại các dự án khai thác lòng sông của các nhà máy Trung Quốc, gây ô nhiễm và ảnh hưởng tới vườn tược và việc canh tác của họ. Có lần anh được mời đến thăm gia đình anh J., được đãi một bữa cơm đạm bạc và ngủ ở chòi nhà anh J., anh nghiệm ra, bản chất của XHDS không phải là có nhiều tiền, ăn vận lịch sự và quý phái để tham gia các hội nghị, mà giống như anh J. và cách làm việc của những người nông dân ở đây - dẫu nghèo, nhưng họ vẫn tự tổ chức các lớp học để hỗ trợ và giúp đỡ nhau. Sức mạnh của XHDS không đi từ trên xuống, mà nằm ở chính người dân khi họ biết kết hợp làm việc và học hỏi cùng nhau.
Cũng trong năm 2014, anh tham gia vào chương trình vận động nhân quyền cho Việt Nam trong khuôn khổ UPR 2014. UPR tập trung vào việc giải trình trước Liên hiệp quốc (LHQ) về các khiếu nại cũng như các báo cáo nhân quyền về Việt Nam. Anh tin rằng quy chế hoạt động của UPR giúp cho người dân có thêm phương tiện để bắt nhà nước phải giải trình về cách điều hành đất nước, về các khiếu nại cụ thể của họ. Nó giúp người dân học cách gây áp lực lên chính quyền để kiểm soát quyền lực của nhà nước, bởi Việt Nam không quen với việc bị kiểm soát quyền lực. Quy chế này có lợi cho cả người dân lẫn chính quyền và chung quy lại, giúp xã hội ngày một phát triển hơn.
Anh trở về Việt Nam vào năm 2015, sau khi tham gia một chương trình giám sát bầu cử ở Đài Loan. Khi ngồi trên máy bay, anh nhẩm đi nhẩm lại bài hát We will rock you. Nội dung bài hát nhắc nhở anh, con người ta chỉ có một cuộc đời để sống, vì vậy phải sống theo cách của riêng mình. Tâm trạng anh lúc này đang rất háo hức, nên không lo ngại nhiều về các rủi ro đang chờ anh ở phía trước, nhưng vừa đáp xuống sân bay, anh bị an ninh dẫn đến đồn công an phường gần đó để làm việc trong mấy tiếng liền và sau đó thu hộ chiếu. Sau mấy tiếng thẩm vấn, họ thả anh về. Có một điều thú vị anh để ý ở sân bay Đà Nẵng và các sân bay khác ở Việt Nam, là họ không treo dòng chữ “Welcome home” như ở các sân bay nước ngoài khác. Anh đặt câu hỏi, liệu “thành phần” như anh có được chào đón tại quê hương hay không?
Khoảng tháng 3-2016 hiện tượng cá chết hàng loạt quanh bờ biển miền Trung Việt Nam bắt đầu xuất hiện. Hàng nghìn tấn cá chết, trôi dạt khắp bờ biển miền Trung Việt Nam, nhưng chính quyền các cấp lại quy cho tự nhiên, tảo biển, nạn thuỷ triều đỏ. Những ngư dân đã sống bao đời nay với đầu sóng ngọn gió ở đó và họ chưa bao giờ thấy cảnh tượng như vậy xảy ra ở biển miền Trung, nên họ không đồng ý với giải thích quanh co của chính quyền. Họ để ý thấy rằng, những đợt xả thải của nhà máy sản xuất thép Formosa trùng hợp với thời điểm cá chết hàng loạt, nên họ tin rằng Formosa là nguyên nhân của thảm họa này. Nhà máy Formosa ở Vũng Áng là nhà máy sản xuất thép xây dựng lớn hàng đầu Đông Nam Á và họ đã đầu tư vào đó hàng tỷ đô la. Nhờ vậy mà họ được chính quyền từ trung ương đến địa phương bao che, nâng đỡ, nên lúc đầu họ không chịu nhận lỗi. Thay vì chịu trách nhiệm, họ đồng lõa với chính quyền quy cho các nguyên do tự nhiên và đổ lỗi cho người dân bản địa.
Trong bối cảnh đó, anh đến tận nơi để tìm hiểu sự việc và nói chuyện với ngư dân địa phương. Không may và cũng may thay anh bị mắc kẹt và tá túc ở nhà thờ giáo xứ Đông Yên, Hà Tĩnh, nơi hậu quả của vụ việc gần như là nghiêm trọng nhất, nhờ đó mà anh có dịp được nghe, hiểu và ghi lại mọi diễn biến của sự việc từ đầu chí cuối. Người dân không đồng tình với cách giải thích của chính quyền, nhưng ý kiến của họ lại không được lắng nghe. Anh đã làm các bài phỏng vấn để họ được khơi gợi thắc mắc, nghi ngờ, và cả nguyện vọng của mình. Facebook của anh trở thành nơi họ trực tiếp phản bác lại các luận điểm, giải thích sai sự thật về nguyên nhân cá chết của chính quyền. Sau này, khi rủi ro anh ninh trở nên lớn hơn, anh hướng dẫn cho một số bạn trẻ cách dùng máy quay phim, mạng xã hội và an ninh mạng để các bạn tự quay, tự đăng tải, hoặc gửi tư liệu để anh đăng tải.
Anh cũng là người đã kết nối, giúp đỡ các nhà báo Đài Loan khi họ sang Vũng Áng làm phóng sự hoàn chỉnh đầu tiên và cũng là duy nhất về thảm họa Formosa cho tới nay. Tiếp đó, khi nhóm đại biểu Đài Loan qua để trao đổi, tìm hiểu sự tình, chính quyền cũng gây khó khăn, cản trở không cho họ gặp ai, nhưng anh đã kết nối nhóm đại biểu này với một số nạn nhân của Formosa, khiến tập đoàn Formosa cuối cùng phải chịu trách nhiệm và nhận lỗi về việc chính họ là nguyên nhân dẫn tới thảm họa cá chết hàng loạt. Việc kết nối cho các nạn nhân Formosa gặp các đại biểu cũng như phóng viên Đài Loan gặp rất nhiều khó khăn vì các nghiêm cấm về an ninh, nhưng theo anh, việc đồng hành cùng ngư dân địa phương đã giúp anh vượt qua các rào cản này để giúp tiếng nói của họ sinh hoa trái. Anh rút ra bài học về sức mạnh vô biên của cộng đồng và tập thể nếu biết đồng hành cùng nhau, tin tưởng nhau để cùng giải quyết và vượt qua vấn đề hay thử thách.
Nhờ chuyến đi này của phái đoàn đại biểu Đài Loan và các nỗ lực khác mà tập đoàn Formosa phải chịu bồi thường cho những nạn nhân bị ảnh hương về sinh kế 500 triệu đô la Mỹ với điều kiện chính quyền là cơ quan phân bổ khoản tiền này. Động thái nhận lỗi và chịu bồi thường là động thái hết sức quan trọng với ngư dân nơi đây, bởi nó là phẩm giá của họ. Họ không còn bị coi là thủ phạm của thảm họa mà chính họ là người phải chịu hậu quả, đồng thời thấy được kết quả để họ tiếp tục lên tiếng. Chính quyền cho rằng động thái này của Formosa là quá đủ để giải quyết nguyên nhân, hậu quả của vụ việc và có thể đóng lại một cách êm đẹp. Tuy nhiên nạn nhân và ngư dân địa phương không đồng tình với cách giải quyết của chính quyền cũng như tập đoàn Formosa. Họ đã đâm đơn kiện tập đoàn thông qua con đường pháp lý ở Việt Nam. Đỉnh điểm là họ tổ chức một cuộc đi bộ rất dài từ Nghệ An vào Hà Tĩnh để nộp đơn kiện, nhưng bị chính quyền dùng vũ lực đàn áp rất khốc liệt. 500 triệu đô tiền đền bù của tập đoàn Formosa không giúp chính quyền khép lại vụ việc, nhưng vũ lực quân đội và quyền lực chính trị đã giúp họ gần như đưa vụ việc đến hồi kết. Phần lớn ngư dân vì sợ bắt bớ nên họ không tiếp tục việc hoạt động bề nổi để lên tiếng cho thảm hoạ. Tuy nhiên, một số nạn nhân khác với sự trợ giúp của các tổ chức người Việt tại Mỹ đã đâm đơn kiện tập đoàn Formosa lên toà án ở Đài Loan. Vụ việc hiện đang nằm ở Tối cao pháp viện và sắp tới có thể được đưa ra xét xử.
Năm 2018, khi nhận được tin từ một nhà báo uy tín, anh là đối tượng sắp bị bắt, anh đã vượt biên sang Thái Lan và ở lại đó khoảng vài tháng. Khi Đại sứ quán Đức liên lạc với anh và thông báo là Bộ Công an sẽ trả lại hộ chiếu thì anh lại quay lại Việt Nam. Cụ thể là vì vụ chính quyền Việt Nam bắt cóc Trịnh Xuân Thanh ở Đức nên phía Đức tạm ngưng mối quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam, nhưng Việt Nam lại muốn giữ và khôi phục mối quan hệ này, nên họ đã chấp nhận yêu cầu gỡ bỏ các giới hạn xuất nhập cảnh của một số nhà hoạt động, trong đó có anh. Bộ Công an trên cơ sở này sẽ trả lại hộ chiếu cho anh nếu anh chấp nhận đến làm việc với họ. Khoảng giữa năm 2019 anh được xuất cảnh và tiếp tục các công việc vận động, nhưng chỉ đi kín đáo vì anh biết, lệnh cấm xuất cảnh chỉ là tạm thời. Sau khi nhận được hộ chiếu khoảng một năm rưỡi, họ lại ra lệnh cấm xuất cảnh và tịch thu hộ chiếu.
Sau thảm họa Formosa, anh tiếp tục trở thành cầu nối và nơi đưa tin độc lập về vụ đàn áp và bi kịch ở làng Đồng Tâm. Căng thẳng bắt đầu bằng việc chính quyền dùng cảnh sát cơ động để cưỡng chế đất của dân làng. Để kháng cự lại, dân làng Đồng Tâm đã bắt mấy chục thành viên của đội cảnh sát cơ động làm con tin, nhưng không dùng vũ lực. Chính quyền đã phải đàm phán để thả con tin, nhưng người dân yêu cầu chính quyền phải cam kết không khởi tố vụ án, không bắt bớ dân làng. Họ thì kiên định giữ khu đất Đồng Sênh, còn chính quyền thì kiên quyết chiếm bằng mọi giá. Vụ việc Đồng Tâm kéo dài dai dẳng từ năm 2017 đến 2020, nhưng vẫn không được giải quyết thỏa đáng. Ngày 9, tháng 1, năm 2020, chính quyền đã huy động khoảng 3000 cảnh sát cơ động và dùng vũ lực để tấn công vào làng Đồng Tâm dẫn đến bi kịch chết người. Ông Lê Đình Kình là một nông dân và được coi là người lãnh đạo phong trào đã bị cảnh sát bao vây và bắn chết ngay tại nhà. Chế độ cộng sản là chế độ đi từ nông dân lên, nhưng khi cần đạt được mục đích, khi cần chiếm đất, họ sẵn sàng dùng mọi phương cách để chống lại nông dân.
Anh không ngừng đưa tin và về tận làng Đồng Tâm để tìm hiểu sự thật, trao đổi với dân làng và lãnh đạo phong trào về các vấn đề pháp lý cũng như cùng đồng hành với họ trong cuộc chiến giữ đất từ năm 2017 đến 2020. Sau vụ càn quét của chính quyền vào tháng 1, 2020, anh càng viết nhiều bài hơn. Chính dân làng Đồng Tâm đã in các bài viết của anh ra và truyền tay nhau đọc. Viết bài nhiều hơn đồng nghĩa với đối mặt với các rủi ro an ninh lớn hơn. Để có thể tiếp tục viết bài và đưa tin, anh phải giữ kín hành tung và đi lánh ở nhiều nơi khác nhau để đảm bảo an toàn, vì đây là vụ việc nhạy cảm và hết sức quan trọng, bởi nó có liên quan trực tiếp đến Bộ công an, vì họ đã mất 3 thành viên cảnh sát trong cuộc bao vây này. Từ đó đến nay đã có rất nhiều người bị bắt, bị trả thù vì lên tiếng cho Đồng Tâm. Mặc dầu bị công an truy lùng và việc đăng bài của anh gặp rất nhiều khó khăn và cản trở, nhưng anh đã chọn lên tiếng thay cho im lặng. Anh tin rằng im lặng là có lỗi với lòng tin mà dân làng đã gửi gắm nơi anh và với những người đã dám lên tiếng cho sự thật trước đó.
Một giờ đồng hồ sau khi đăng bài về việc bao vây, càn quét của Bộ công an ở Đồng Tâm, anh đã phải rời khỏi Hà Nội và đi lánh trong vòng 4-5 tháng tiếp theo đó.
Sau khoảng 5 tháng tránh sự truy lùng của an ninh, anh trở lại Hà Nội vào khoảng tháng 5, 2020. Khi đang ngồi uống cafe với bạn bè thì anh bị đưa đi, đúng như những gì đã lo lắng trước. Anh đã từng làm việc với an ninh rất nhiều lần, nhưng lần này, anh đặc biệt cảm nhận được sự căng thẳng trong buổi thẩm thính. Buổi điều tra xoay quanh vụ việc Đồng Tâm với những câu hỏi như, anh có chu cấp tiền bạc cho người dân không và có kích động bạo lực gì hay không. Buổi làm việc đó được ghi lại bằng camera và khi kết thúc buổi làm việc, họ ghi lại mọi chuyện trong một cái CD và bắt anh ký biên bản. Họ đưa cho anh hai biên bản là danh bản và chỉ bản và bắt anh ký vào. Chỉ là cái ngón tay, danh là tên tuổi của mình. Danh bản là nơi điền thông tin thân nhân, tên tuổi, quê quán, ngày tháng năm sinh. Chỉ bản là nơi lưu giữ dấu vân tay của cả 10 đầu ngón tay. Đây là thủ tục dành cho việc bắt giữ vì anh đã được học qua ở trường, mặc dầu họ nói là họ sẽ không bắt giữ anh. Ngày hôm sau, họ hẹn anh đi uống cà phê và chỉ đe dọa là nếu anh tiếp tục thì lần sau, khi anh gặp lại họ, hoàn cảnh gặp sẽ thay đổi rất nhiều. Sau buổi làm việc này, anh lại tiếp tục lánh đi. Vì việc viết bài và lên tiếng cho Đồng Tâm, những năm tháng sau đó của anh là những chuỗi ngày đi lánh nạn và tìm cách thoát khỏi sự săn lùng của an ninh để tiếp tục các công việc mà anh vẫn làm như giúp đỡ các tù nhân lương tâm, nạn nhân Formosa, vv.
“Tôi vào trong một cái quán cà phê và rồi tôi phát hiện là tôi bị đi theo. Tôi đi bộ ra một cái quán sữa đậu nành, tôi thấy họ đi theo tôi. Rồi sau đó tôi phải bắt một chiếc grab car. Tôi chọn chạy lên cao tốc, vì những người đi theo tôi đi xe máy, không có vào cao tốc được. Đường cao tốc đó, vì tôi hay đi lại ở đó, tôi biết đường cao tốc có một cái chỗ giao cắt mà không có chính thức và ngăn cách hai chiều của đường cao tốc nó đã bị gỡ đi. Thì khi mà đến cái đoạn đó thì tôi nhờ cái người lái xe vòng ngược lại. Khi mà vòng ngược lại chạy được khoảng mười phút thì tôi thấy là hoá ra, mấy cái người mà đi theo tôi họ không có vào được cao tốc thì họ gọi cho một cái xe cảnh sát mà kiểu ò-í-e, rất là ồn ào, xe chuyên dụng để rượt theo tôi, nhưng mà bởi vì là tôi đã vòng ngược lại rồi. Họ tưởng là tôi sẽ đi về cái lối thoát ra của cao tốc. Cao tốc đó nó chỉ có một lối vào và một lối ra thôi. Họ rượt theo tôi như vậy, nhưng mà tôi vòng lại được xe rồi, nên cái lần đó tôi thoát.”
Được vài tháng yên ổn khỏi sự truy lùng của an ninh sau vụ Đồng Tâm thì đến năm 2011, khi anh vừa mở cửa định đi mua thuốc cho vợ thì có mấy người an ninh người ta đã đứng sẵn đó rồi và người ta không cho anh đi, dẫu anh có giải thích là chỉ đi mua thuốc cho vợ. “Tình cờ, hôm đó là chủ nhật, có một thánh lễ ở nhà thờ Cửa Bắc ở Hà Nội và thánh lễ cầu nguyện cho Ukraine, có cả những người nhân viên ngoại giao từ các sứ quán người ta tề tựu về đó. Thì bên an ninh người ta cho rằng tôi đến dự các buổi cầu nguyện đó, nên là họ chặn tôi lại, không cho tôi đi mua thuốc. Đó là cái chuyện mà tôi thấy là quá mức.” An ninh đã nắm bắt rõ tình hình cũng như điểm yếu của anh và gia đình để ngăn cản, gây áp lực, không cho anh và gia đình được đáp ứng những nhu cầu căn bản và rất thiết yếu như thuốc thang khi đau ốm.
Sau khi bị an ninh chặn không cho đi mua thuốc, anh thấy tài khoản ví điện tử của anh bị khoá. Anh gọi điện lên tổng đài của công ty ví điện tử, lúc đầu họ quanh co, không chịu trả lời lý do vì sao tài khoản của anh bị đóng băng, nhưng sau một hồi hỏi đáp qua lại thì họ thừa nhận họ đóng tài khoản ví điện tử của anh vì lệnh của công an. “Thì tôi làm cái việc này đủ lâu để tôi biết là, một khi mà tài khoản ngân hàng hoặc những tài khoản ví điện tử liên quan tới tài chính như thế này đó, mà nó bị đóng băng, thì điều đó có nghĩa là họ đã mở cái vụ việc của tôi ra rồi, họ mở cái hồ sơ của tôi ra cho một vụ án rồi. Và ở cái bối cảnh đó tôi biết là nếu mà bắt bớ thì chắc là cái án của tôi sẽ rất là dài. Thế thì là nó đưa tôi đến quyết định là tôi phải rời khỏi Việt Nam.”
Khoảng tháng 6-2022, anh vượt biên qua Thái Lan thêm một lần nữa vì khi đó công an đã thu lại hộ chiếu của anh. Gia đình dự tính là sau khi anh qua Thái Lan, 10 ngày sau, vợ con sẽ qua đó đoàn tụ với anh, vì con anh còn rất nhỏ và cần sự chăm sóc của cả cha lẫn mẹ. Một việc mà gia đình anh không ngờ tới là khi vợ con anh ra đến sân bay Nội Bài thì bị chặn lại để gây sức ép, bắt anh phải quay về Việt Nam. “Và họ nói rất là rõ với vợ tôi sau đó là họ muốn giữ vợ con tôi lại để tôi phải quay về Việt Nam, bởi vì họ biết là tôi đã rời khỏi Việt Nam rồi. Thế thì là phải mất vài tháng sau thì chúng tôi mới có thể xoay xở là để vợ tôi cũng phải vượt biên như tôi để sang Thái Lan. Còn riêng con tôi thì nhờ người thân bay cùng để sang Thái Lan đoàn tụ cùng gia đình vài tháng sau đó.”
Mặc dầu đã thoát được nguy hiểm ở Việt Nam, nhưng Thái Lan không phải là nơi trú ẩn hoàn toàn không có rủi ro. Năm 2019, nhà báo Trương Duy Nhất bị bắt cóc và áp tải về Việt Nam và những rủi ro an ninh xuyên quốc gia khác khiến anh luôn đề cao tinh thần cảnh giác. Khi đó anh nhận được thông tin từ một người quen đã từng hoạt động chung với anh trong một số dự án ở Việt Nam và nhờ thông tin này mà anh thoát được cái bẫy bắt cóc mà chính quyền Việt Nam thường dùng để bắt cóc các nhà hoạt động từ nước ngoài để áp tải về Việt Nam thụ án. “Thì anh này báo với tôi đó, là anh bị chặn giữ, an ninh chặn giữ bắt giữa đường và câu lưu anh trong mấy ngày liên tục. Và rồi sau đó, đại diện của Bộ Công an có đến cái buổi thẩm vấn đó và đưa ra cái lời đề nghị với anh, đó là sẽ cho anh một khoản tiền rất là lớn, để anh bay sang bên Thái Lan, Bangkok để có một cái buổi cà phê với tôi, còn họ thì họ sẽ lo những cái việc còn lại. Tức là họ biết hành tung của tôi, họ biết được chỗ ở của tôi thì họ sẽ lo những phần còn lại.”
Trong suốt quãng thời gian dấn thân và tham gia vào các hoạt động dân sự, các buổi làm việc với an ninh Việt Nam và các rủi ro truy lùng, sách nhiễu là một phần trong cuộc sống của anh. Anh rút ra được cách làm việc của an ninh thường được bố trí để có 2 hoặc 3 người hiện diện, trong đó một người thường là người hỏi chính, một người là thư ký ghi chép lại diễn biến, cũng như câu trả lời của người bị thẩm vấn. Họ thường đặt ra ba nhóm câu hỏi và tuỳ vào vụ việc, hoàn cảnh mà họ sẽ tập trung vào một nhóm câu hỏi nào đó. Nhóm câu hỏi thứ nhất là về công việc, anh đã đi đâu, gặp ai, làm gì trong một khoảng thời gian nhất định nào đó.
Nhóm thứ 2 là về các bài viết của anh, đặc biệt là những bài viết nhạy cảm mà họ cho là thuộc vào nhóm nguy hiểm, không thể chấp nhận được. Họ muốn cho anh thấy là những bài viết như vậy là điều sai trái, đồng thời họ cũng chỉ ra động cơ, mục đích đen tối của anh khi viết những bài như vậy vì thường là họ đã có sẵn một bộ hồ sơ về người bị thẩm vấn.
Nhóm thứ 3 là về những mối quan hệ xã hội, anh quen biết những ai, đánh giá những người đó như thế nào. Những người đó đánh giá về mình như thế nào trong những buổi làm việc tương tự. Họ thường sẽ cho anh biết đánh giá của những người đó về anh như một cách để chia rẽ, ly gián. Các mối quan hệ đó có thể bao gồm những người thân quen, nhưng tập trung chính vẫn là anh có quen biết người này, người nọ hay không, có cộng tác với những đối tượng mà họ cho là nguy hiểm hay không.
Anh để ý thấy trong các buổi làm việc với anh ninh, những người thẩm vấn, hỏi cung anh thường là những người đồng trang lứa với anh. Trong các giờ giải lao, anh nói chuyện với họ về các địa điểm du lịch ở Việt Nam, sở thích cá nhân, rồi chia sẻ với nhau về những điều thường nhật trong cuộc sống. Điều này khiến anh suy ngẫm và đặt câu hỏi, tại sao những người cùng trang lứa với nhau, cùng lớn lên như nhau, trải qua những hoàn cảnh khó khăn như nhau lại đối đầu nhau. Anh cho rằng “họ được đào tạo để không coi tôi là một công dân, hoặc thậm chí là một con người. Bởi vì, con người ta chỉ có thể làm điều xấu, điều ác ý với người khác, khi không coi người đó là một con người, hoặc là một con người thực thụ như chính bản thân họ, không có bình đẳng, không có tương xứng với họ.“ Mặc dầu có những khác biệt về hình dung tương lai cho Việt Nam, về cách mà đời sống xã hội nên vận hành, về sự phát triển của đất nước, nhưng họ vẫn là những con người như anh. Những con người với những niềm mơ ước, kỳ vọng, nỗi buồn, nỗi đau, nỗi xấu hổ như nhau. Điều làm anh luôn day dứt, băn khoăn là “vì sao một chế độ xã hội lại khiến cho những cái người chung trong một thế hệ, những cái người trẻ tuổi có những cái điều chia sẻ tương đồng với nhau như vậy mà người này lại bỏ được người kia vào trong tù, tước đoạt tự do của người khác, không hiểu là cho một cái mục đích gì. Thì cái chế độ đó tôi nghĩ là nó phi nhân tự trong cái bản chất của nó, bởi vì nó để cho những con người chung một thế hệ làm những cái điều đó với nhau.”
Những trăn trở về sự bất công, nghịch lý trong đời sống chính trị và xã hội ở Việt Nam càng khiến anh tin tưởng vào một sự thay đổi cho Việt Nam. Sự thay đổi đó với anh là Việt Nam sẽ trở thành một nơi đáng sống hơn, đủ rộng rãi cho tất cả mọi người, thuộc mọi tầng lớp, địa vị không phân biệt giàu nghèo, quan điểm chính trị hay tôn giáo, lối nghĩ, cách nhìn, cách sống. Đó phải là một bầu trời rộng mở, để ai nấy đều cảm thấy được bao bọc, nơi những cách sống khác nhau cùng được tồn tại trong sự tôn trọng và khoan dung. Việt Nam đó với anh không phải là nơi con người vì những khác biệt quan điểm mà trở nên thù hận và nhấn chìm nhau trong những vũng lầy không thể thoát ra được, mà là nơi, dầu có những cái sự khác biệt, thì chúng ta thừa nhận những sự khác biệt đó với nhau và công nhận rằng “chính cái sự khác biệt đó nó mới là bản chất của xã hội, một cách trung thực, một cách chân thật. Và cái điều đó đó, thì tôi nghĩ là không phải là vì mình nói nó sẽ giúp cho kinh tế phát triển, giúp cho mọi người trở nên là giàu có hơn, thịnh vượng hơn. Những cái chuyện có giàu có thịnh vượng hơn hay không đó, thì nó lại là một cái chuyện khác. Nhưng mà cái chuyện phải sống tử tế với nhau, phải tôn trọng lẫn nhau, và chấp nhận cái sự khác biệt, chấp nhận cái sự tự do, cái chủ quyền của mỗi cá nhân trong một cái xã hội chung đó, là điều kiện tiên quyết, là những thứ mà không thể khoan nhượng được, tức là không thể đánh đổi, hoặc thỏa hiệp được.”
-----------------------------------------------------------------------------
Nguyen Anh Tuan was born and raised in Da Nang in 1990. His father was a mechanic and his mother ran a restaurant. Although life was difficult at the time, it remains idyllic in his memory, as his family lived in a fishing village right next to the river and Son Tra mountain. From a young age, he was encouraged to freely express his opinions and debate to understand issues and defend what he believed to be right. His family often watched the evening news while gathered around the dinner table, not to absorb government propaganda, but because there were no other programs available. Although they didn‘t have the right to choose what to watch, his parents used this time to explain and discuss issues raised in the news with him, never forcing him to accept their opinions. His parents never used corporal punishment to discipline him, but instead showed respect and listened to his opinions. His ideology and way of thinking were also shaped from this point onward.
Thanks to an education based on debate and persuasive reasoning, he wasn‘t afraid to express his opinions in his own unique way at school, from elementary to middle and high school. In high school, his expression became even clearer. Sometimes he wrote petitions, other times he sought ways to talk to and present his views to the principal or other teachers. Once, he was severely reprimanded by a teacher for having a beard and wearing faded pants. He asked the teacher why having a beard and wearing faded pants was wrong and whether it violated school rules, but the teacher didn‘t have enough grounds to „accuse“ him. From then on, he wasn‘t reprimanded for such minor offenses again.
On another occasion, he wrote a letter to the principal to express his opinion and protest against the competitions testing knowledge of newly enacted regulations, laws, and decrees. To achieve a 100 percent student participation rate in these competitions, the school provided assignments with answers. He argued that this was merely a superficial and hypocritical act, resembling a writing contest that students didn‘t care about or understand. The principal then invited him to his office for a discussion and, surprisingly, agreed with his points and praised him for his courage in speaking his mind. The respect and open-mindedness of some teachers in the school in listening to students‘ opinions continued to influence his thinking and strengthen his argumentative spirit.
After graduating from high school, he enrolled in the National Academy of Public Administration, believing he could contribute to social change from within by becoming part of the government apparatus, just as previous generations in his family had done. He believed that university entrance exams were proof of social justice, as they were open to all students, citizens of all social classes, regardless of wealth or social status. Upon entering the academy, he witnessed a completely different reality. Many students were admitted not through exams and high scores, but through bribery to manipulate grades. Furthermore, during his time at the academy, he accompanied a professor to classes for government officials and civil servants, which allowed him to learn about the workings of government agencies and understand their way of thinking. On one occasion, he and his teacher had the opportunity to have a meal together and witnessed a group of judges and lawyers in the Central Highlands agreeing on indictments right at the table in a restaurant. Similarly, the extravagance of a classmate‘s family, whose father was a member of the Central Committee of the Communist Party, made him question the model currently in operation in Vietnam.
Throughout his primary and secondary education, he was never exposed to or heard of universal concepts such as human rights or civil society. His earliest memories, from the age of six or seven, stirred empathy and indignation at social injustices. The image of his neighbor, a girl in a wheelchair living in a dilapidated shack, determined to protect her family‘s land with her last ounce of strength, remains indelible in his mind. The only thing he felt and remembered to this day was the government‘s ruthlessness towards a small, powerless citizen with no assets. Later, as he grew older and gained more life experience and exposure to situations directly related to human rights and civil society, he gradually understood these experiences as universal concepts. Furthermore, he was fortunate to have access to a wealth of materials and books from the time of the Republic of Vietnam, which opened up a new horizon of knowledge for him, helping him understand and define universal concepts of democracy and human rights.
These life experiences and broadened horizons helped him understand that the current system is not the only option, nor the best or only solution for Vietnam and its people. He realized that many other systems exist that not only contribute to societal development but also restrain power, preventing human corruption and moral decay. Gradually, he understood that Vietnam needed change, and this change couldn‘t happen overnight; it required a process. For this change to be sustainable and long-lasting, society and its people needed the right to self-determination and independence. This involved independent social structures, separate from the government, companies, and corporations, to promote and propose change to the authorities. This was also when he discovered the concept of civil society, as it helps change society from its roots without resorting to violence.
From 2011, he began participating in spontaneous street protests in Hanoi. Naturally, the authorities tried to prevent and discourage these demonstrations. The first protest he participated in was about the Vietnamese ship Binh Minh having its cables cut by China, and this marked the beginning of a 10-year wave of protests in Vietnam. Following this protest, Hanoi‘s streets were often packed with protesters every Sunday morning. When people first started participating in protests in 2011, they often followed calls to protest from social media and lacked any prior organization or planning. Often, groups would simply gather and march through Hanoi‘s streets without knowing the route. Later, as the protests became more organized, people agreed on routes and slogans to chant during demonstrations, and the protests became increasingly well-organized.
Every Sunday morning is not only a day for protests but also an opportunity for like-minded people and young people with similar aspirations to meet and share with each other. Many civil society groups have been formed from these gatherings, such as the No-U group, which opposes China‘s nine-dash line claim in the South China Sea. He himself was reprimanded by the school and threatened with poor grades and possibly not graduating, but he continued to participate in the protests.
The 2018 protest against the Special Economic Zone Bill was the first protest against a state policy, rather than against external third forces like previous anti-China protests. The protest attracted a large number of participants and supporters, forcing the government to postpone the Special Economic Zone Bill due to the strong public opposition. Besides participating in the 2018 protest against the Special Economic Zone Bill, he also engaged in the civil society debate at the time as a counterweight to the government‘s propaganda. The government promoted the idea that these special economic zones had the potential to unleash the economic potential of both the local area and Vietnam as a whole, but civil society argued that these zones posed a significant risk of falling into foreign hands and transforming into casinos, causing numerous social problems and social issues for the local area. However, the Ministry of Public Security expressed concern over the intense wave of protests that had lasted nearly 10 years and began to suppress them. The protests against the special economic zone bill and the cybersecurity bill in Hanoi were heavily suppressed due to their smaller scale compared to the protests in Saigon. In previous protests, the number of arrests was usually 15-20 people, but in 2018, around 148 people were arrested, and in 2019, 50-60 people were arrested. Sentences for dissidents also increased, from 3-4 years to 7-10 years. The purge and elimination of those who dared to speak out and protest continues to this day. The authorities found that using violence to silence dissenting voices was effective, and they used this as an excuse to surround and suppress protests to resolve land disputes and forcibly seize land in Dong Tam.
As the only student in his class selected to attend a party indoctrination class preparing him for joining the Communist Party, he ultimately chose not to pursue this path, finding it unsuitable for him. Instead of joining the party and pursuing a career in state administration, around April 2011, he wrote a letter of confession, following the arrest of lawyer Cu Huy Ha Vu (CHHV) under Article 88 of the Criminal Code for producing and possessing documents opposing the socialist state. Although he disagreed with some of CHHV‘s opinions, he still believed that the right to express his political views through writing and publishing was very important. He decided to write the letter of confession because he wanted to protest the injustice of Article 88. In principle, he had also read CHHV‘s articles and downloaded them to his personal computer, so he should also be considered to have possessed documents opposing the state. Therefore, if lawyer CHHV was arrested and prosecuted, he should also be arrested. Because of this action, he was summoned by the school and the police and asked to withdraw his confession. The school promised the authorities that it was just an impulsive and thoughtless act, but he refuted this, asserting that these were things he believed were right and had carefully considered as a mature citizen, not as a student. His article was published by media outlets such as BBC, RFA, and the Ba Sàm blog.
Because of this article, his landlord was harassed, many people protested, but there were also voices of encouragement and support for his attitude and actions. For him, the reactions of outsiders, whether good or bad, were unimportant; what mattered was the motivation from within: daring to express his opinions and defend what he believed was right. This was also his first act of public political opposition, which helped him completely break away from his family‘s traditional career path, but making this decision was not easy for him.
After graduating from the National University of Public Administration, he participated in a civil society training course in the Philippines in late 2012, which aligned with his vision and interests. He was sent to study at Pakisama. It is an organization focused on land rights and supporting farmers, bringing together Filipinos from across the country. He had the opportunity to visit training centers organized by farmers themselves to help each other. They shared experiences in organic farming and in resisting riverbed mining projects by Chinese factories, which were causing pollution and affecting their gardens and farming. Once, he was invited to visit Mr. J.‘s family, where he was treated to a simple meal and slept in Mr. J.‘s hut. He realized that the essence of civil society organizations isn‘t about having a lot of money, dressing elegantly, and attending conferences, but rather about Mr. J. and the way the farmers here work – even though they are poor, they still organize classes to support and help each other. The strength of civil society organizations doesn‘t come from above, but lies within the people themselves when they know how to work and learn together.
Also in 2014, he participated in a human rights advocacy program for Vietnam within the framework of the 2014 Universal Periodic Review (UPR). The UPR focuses on accountability to the United Nations (UN) regarding complaints and human rights reports on Vietnam. He believes that the UPR‘s operating procedures provide citizens with more means to hold the government accountable for its governance and for their specific grievances. It helps people learn how to pressure the government to control state power, as Vietnam is not accustomed to having its power controlled. This system benefits both citizens and the government and, ultimately, contributes to the development of society.
He returned to Vietnam in 2015 after participating in an election monitoring program in Taiwan. While sitting on the plane, he kept humming the song. We will rock you. The song‘s lyrics reminded him that people only have one life to live, so they should live it their own way. He was feeling very excited at the time, so he wasn‘t too worried about the risks ahead. However, upon landing, he was taken by security to a nearby police station for questioning for several hours, after which his passport was confiscated. After several hours of interrogation, they released him. He noticed something interesting at Da Nang airport and other airports in Vietnam: they didn‘t display the „Welcome home“ sign like they do at other foreign airports. He wondered if someone like him would be welcomed back home.
Around March 2016, mass fish deaths began to occur along the central coast of Vietnam. Thousands of tons of dead fish washed ashore, but authorities at all levels attributed the deaths to natural causes, algae blooms, and red tide. Fishermen who had lived for generations in the coastal waters of central Vietnam had never witnessed such a scene before, and they disagreed with the government‘s evasive explanations. They noticed that the wastewater discharges from the Formosa steel plant coincided with the mass fish deaths, leading them to believe that Formosa was the cause of the disaster. The Formosa plant in Vung Ang is a leading construction steel plant in Southeast Asia, having invested billions of dollars in it. Because of this, they received protection and support from the central and local governments, initially refusing to admit fault. Instead of taking responsibility, they colluded with the authorities to attribute the deaths to natural causes and blame the local population.
In that context, he went to the scene to investigate and speak with local fishermen. Unfortunately, and fortunately, he got stuck and took refuge at the Dong Yen parish church in Ha Tinh, where the consequences of the incident were most severe. This gave him the opportunity to listen, understand, and record every development from beginning to end. The people disagreed with the government‘s explanation, but their opinions were not heard. He conducted interviews to elicit their questions, doubts, and aspirations. His Facebook page became a place where they directly refuted the government‘s false explanations about the cause of the fish deaths. Later, when the security risks became greater, he guided some young people on how to use video cameras, social media, and cybersecurity so they could film, upload, or send materials to the authorities.
He also connected with and assisted Taiwanese journalists when they came to Vung Ang to produce the first and only complete report on the Formosa disaster to date. Later, when the Taiwanese delegation came to discuss and understand the situation, the authorities created difficulties and prevented them from meeting anyone. However, he connected this delegation with some victims of Formosa, ultimately leading the Formosa corporation to take responsibility and admit fault for being the cause of the mass fish deaths. Connecting the Formosa victims with the delegates and Taiwanese journalists was very difficult due to security restrictions, but according to him, working alongside local fishermen helped him overcome these obstacles to help amplify the voice of the victims.SurnameIt bore fruit. He learned a lesson about the boundless power of community and teamwork if they know how to work together, trust each other, and solve and overcome problems or challenges together.
Thanks to this trip by the Taiwanese delegation and other efforts, the Formosa Group was forced to compensate the victims whose livelihoods were affected with US$500 million, on the condition that the government would be the agency allocating this money. This act of admitting guilt and agreeing to compensation is extremely important for the local fishermen, as it reflects their dignity. They are no longer seen as the perpetrators of the disaster, but as the ones bearing the consequences, and they see the results, encouraging them to continue speaking out. The government believes that this move by Formosa is sufficient to address the cause and consequences of the incident and can bring it to a peaceful conclusion. However, the victims and local fishermen disagree with the government‘s and Formosa Group‘s handling of the situation. They have filed lawsuits against the group through legal channels in Vietnam. The situation culminated in a long walk from Nghe An to Ha Tinh to file their lawsuit, but they were met with brutal violence from the authorities. The $500 million in compensation from the Formosa Group did not help the government close the case, but military force and political power helped them almost bring the matter to a close. Most fishermen, fearing arrest, did not continue their public activities to speak out about the disaster. However, some other victims, with the help of Vietnamese organizations in the US, filed a lawsuit against the Formosa Group in a Taiwanese court. The case is currently before the Supreme Court and may soon go to trial.
In 2018, after receiving information from a reputable journalist that he was about to be arrested, he crossed the border into Thailand and stayed there for several months. When the German Embassy contacted him and informed him that the Ministry of Public Security would return his passport, he returned to Vietnam. Specifically, because of the Vietnamese government‘s abduction of Trinh Xuan Thanh in Germany, Germany temporarily suspended its strategic partnership with Vietnam. However, Vietnam wanted to maintain and restore this relationship, so they accepted the request to lift entry and exit restrictions for some activists, including him. The Ministry of Public Security would return his passport on this basis if he agreed to cooperate with them. Around mid-2019, he was allowed to leave the country and continued his advocacy work, but only discreetly because he knew the travel ban was only temporary. About a year and a half after receiving his passport, they issued another travel ban and confiscated it.
Following the Formosa disaster, he continued to be a bridge and an independent news source about the repression and tragedy in Dong Tam village. The tension began with the government using riot police to forcibly seize land from the villagers. In resistance, the villagers of Dong Tam took dozens of riot police members hostage, but did not use force. The government had to negotiate for the release of the hostages, but the villagers demanded a commitment from the government not to prosecute the case or arrest the villagers. They remained steadfast in holding onto the Dong Senh land, while the government was determined to seize it at all costs. The Dong Tam incident dragged on from 2017 to 2020, but remained unresolved. On January 9, 2020, the government mobilized approximately 3,000 riot police and used force to attack Dong Tam village, leading to a deadly tragedy. Mr. Le Dinh Kinh, a farmer and considered a leader of the movement, was surrounded and shot dead in his home by the police. The communist regime rose from the peasantry, but when it needed to achieve its goals, when it needed to seize land, it was ready to use any means to fight against the farmers.
He tirelessly reported on the events, even going to Dong Tam village to investigate the truth, discussing legal issues with the villagers and movement leaders, and standing alongside them in their land dispute from 2017 to 2020. After the government‘s crackdown in January 2020, he wrote even more articles. The villagers of Dong Tam themselves printed his articles and passed them around to read. Writing more articles meant facing greater security risks. To continue writing and reporting, he had to keep his whereabouts secret and hide in various places to ensure his safety, as this was a sensitive and extremely important case, directly involving the Ministry of Public Security, which lost three police officers in the siege. Since then, many people have been arrested or retaliated against for speaking out for Dong Tam. Despite being hunted by the police and facing numerous difficulties and obstacles in posting his message, he chose to speak out instead of remaining silent. He believed that silence would be a betrayal of the trust the villagers had placed in him and of those who had dared to speak the truth before.
An hour after posting about the Ministry of Public Security‘s siege and raid in Dong Tam, he had to leave Hanoi and go into hiding for the next 4-5 months.
After about five months of evading security forces, he returned to Hanoi around May 2020. While having coffee with friends, he was taken away, just as he had feared. He had worked with security forces many times before, but this time, he felt particularly tense during the interrogation. The investigation revolved around the Dong Tam incident, with questions such as whether he provided money to the people and whether he incited any violence. The interrogation was recorded on camera, and at the end, they recorded everything on a CD and made him sign a document. They gave him two documents: a nameplate and a fingerprint plate, and made him sign them. The nameplate is where he fills in personal information, name, birthplace, and date of birth. The fingerprint plate is where he keeps the fingerprints of all ten fingers. This was the procedure for arrest, as he had learned it in school, even though they said they wouldn‘t arrest him. The next day, they arranged to meet him for coffee and only threatened that if he continued, the circumstances would be very different the next time he met them. After this meeting, he went into hiding again. Because of his writing and speaking out for Dong Tam, the following years were a series of days spent in hiding and trying to escape the security forces‘ pursuit so he could continue the work he had been doing, such as helping prisoners of conscience, victims of the Formosa incident, etc.
“I went into a coffee shop and then I realized I was being followed. I walked to a soy milk shop, and I saw they were following me. Then I had to take a Grab car. I chose to go onto the highway because the people following me were on motorbikes and couldn‘t get onto the highway. Because I travel on that highway often, I know there‘s an unofficial interchange where the lanes separating the two lanes have been removed. So when we got to that section, I asked the driver to turn around. After turning around and driving for about ten minutes, I realized that the people following me, unable to get onto the highway, had called a police car – a very noisy, specialized vehicle – to chase me, but because I had turned around, they thought I was going to the highway exit. That highway only has one entrance and one exit. They chased after me like that, but I managed to turn the car around, so I escaped that time.”
After a few months of peace and freedom from security forces following the Dong Tam incident, in 2011, when he had just When he opened the door to go buy medicine for his wife, several security personnel were already standing there and wouldn‘t let him go, even though he explained he was only going to buy medicine for his wife. “Coincidentally, that day was Sunday, and there was a Mass at the Cua Bac Church in Hanoi, a prayer service for Ukraine, with diplomatic staff from various embassies gathered there. The security personnel thought I was attending those prayer services, so they stopped me and wouldn‘t let me go buy medicine. That‘s what I found excessive.” The security forces had clearly grasped the situation and the vulnerabilities of him and his family to obstruct and pressure them, preventing them from meeting their basic and essential needs, such as medicine when they were sick.
After being stopped by security to buy medicine, he found his e-wallet account frozen. He called the e-wallet company‘s hotline. At first, they were evasive and refused to explain why his account was frozen, but after some back-and-forth questioning, they admitted they had frozen his e-wallet account on a police order. “I’ve been doing this job long enough to know that once a bank account or any e-wallet account related to finance like this is frozen, it means they’ve opened a case against me, they’ve opened a file for a criminal investigation. And in that context, I knew that if I were arrested, my sentence would be very long. So it led me to the decision that I had to leave Vietnam.”
Around June 2022, he crossed the border into Thailand again because the police had confiscated his passport. His family planned that ten days after he arrived in Thailand, his wife and children would join him, as his child was very young and needed the care of both parents. However, something his family didn‘t expect was that when his wife and children arrived at Noi Bai Airport, they were stopped and pressured to return to Vietnam. “They clearly told my wife that they wanted to keep her and the children there so I would return to Vietnam, because they knew I had already left Vietnam. It took several months before we could arrange for my wife to also cross the border into Thailand. As for my child, we arranged for relatives to fly with her to Thailand to reunite with the family a few months later.”
Although he escaped danger in Vietnam, Thailand was not a completely risk-free haven. In 2019, journalist Truong Duy Nhat was abducted and extradited to Vietnam, and other transnational security risks kept him highly vigilant. At that time, he received information from an acquaintance who had worked with him on several projects in Vietnam, and thanks to this information, he escaped the abduction trap that the Vietnamese authorities often use to abduct activists from abroad and extradite them to Vietnam to serve their sentences. “Well, this guy told me that he was stopped and detained by security forces in the middle of the road for several days. Then, a representative from the Ministry of Public Security came to the interrogation and made him an offer: a large sum of money to fly to Bangkok, Thailand, for a coffee meeting with me, and they would take care of the rest. That is, they knew my whereabouts, they knew where I lived, so they would handle everything else.”
Throughout his involvement in civil activities, interactions with Vietnamese security forces and the risks of pursuit and harassment were a part of his life. He observed that security operations typically involved two or three people present, with one usually acting as the main interrogator and another as a secretary recording the proceedings and the interrogator‘s answers. They usually posed three groups of questions, and depending on the case and circumstances, they would focus on one particular group. The first group of questions concerned his work: where he had been, who he had met, and what he had done during a specific period.
The second group is about his writings, especially the sensitive ones they consider dangerous and unacceptable. They want to show him that such writing is wrong, and they also want to point out his dark motives and purposes in writing them, as they usually already have a file on the person being interrogated.
The third group concerns social relationships: who you know, how you evaluate them, and how those people perceive you in similar work situations. They will often share their opinions of you as a way to sow discord and division. These relationships may include close acquaintances, but the main focus is on whether you know this person or that person, and whether you collaborate with individuals they consider dangerous.
He noticed that during his interrogations with security forces, those who questioned him were often his peers. During breaks, he talked with them about tourist destinations in Vietnam, personal interests, and shared everyday life experiences. This made him reflect and question why people his age, who grew up together and went through similar hardships, would confront each other. He believed that “they were trained not to see me as a citizen, or even as a human being. Because people can only do bad, malicious things to others when they don‘t see them as human beings, or as truly human beings as themselves, without equality or reciprocity.” Despite differences in their visions of Vietnam‘s future, how social life should function, and the country‘s development, they were still people just like him. These people share the same dreams, hopes, sorrows, pains, and shame. What constantly troubles and puzzles him is, „Why does a social system allow people of the same generation, young people who share so much in common, to imprison one another, depriving them of their freedom, for some incomprehensible purpose? I believe that system is inhumane in its very nature, because it allows people of the same generation to do such things to each other.“
His concerns about injustice and paradoxes in Vietnam‘s political and social life further strengthened his belief in change for Vietnam. For him, that change would mean Vietnam becoming a more livable place, open enough for everyone, regardless of social class, status, political views, religion, way of thinking, perspective, or lifestyle. It should be an open sky where everyone feels embraced, where different ways of life coexist with respect and tolerance. For him, Vietnam is not a place where people, because of differing viewpoints, become hateful and drag each other down into inescapable quagmire. Rather, it is a place where, despite differences, we acknowledge them and recognize that „these differences are the very essence of society, honestly and truthfully. And I think that‘s not about saying it will help the economy develop, make people richer and more prosperous. Whether that leads to greater wealth and prosperity is another matter. But the fact that we must live decently with each other, respect each other, and accept differences, accept the freedom and sovereignty of each individual within that shared society, is a prerequisite, something that cannot be compromised, that is, something that cannot be traded away or compromised.“
© Všechna práva vycházejí z práv projektu: Memory of Vietnamese Civil Society
Příbeh pamětníka v rámci projektu Memory of Vietnamese Civil Society (Ho Xuan Huong )